Tóm tắt


Xạ trị là phương thức chữa trị ung thư phổ biến nhất áp dụng bức xạ ion hóa. Trong phần lớn những trường hợp, xạ trị nhất định ảnh hưởng đến những mô thường ngày quanh đó khối u. Silymarin là 1 trong những thành phần hóa học quan yếu nhất của cây kế sữa. Silymarin gồm sáu flavonolignans mà Silibinin, với 40-50%, là phổ thông nhất. Trước thiếu gì tác dụng có lợi của silymarin trong việc kiểm soát những bệnh qua trung gian những cái oxy giận dữ, người ta cảm thấy rằng silymarin nhiều khả năng hoạt động như 1 tác nhân đối phó bức xạ đầy hứa. Trong bài viết Đánh giá này, chúng ta giới thiệu Silymarin là chất phóng xạ thảo mộc.

GIỚI THIỆU




Sinh học phóng xạ Xạ trị là phương thức điều trị ung thư nhiều nhất áp dụng bức xạ ion hóa. Trong đa số các trường hợp, XẠ TRỊ nhất mực tác động đến các mô bình thường quanh đó khối u. Phơi nhiễm những mô dẫn tới stress oxy hóa do bức xạ nước và tạo ra những loại oxy phản ứng , tiêu thụ chất chống oxy hóa tế bào và phản ứng có DNA, RNA, protein, lipid của màng tế bào , v.v . Điều đấy gây ra rối loàn chức năng tế bào dẫn đến chết tế bào. Thiệt hại bức xạ đối với những hệ thống sinh vật học đang xảy ra ưng chuẩn hai quá trình: a) tác động trực tiếp, trong ấy năng lượng bức xạ được kết nạp qua các phân tử tiêu chí của DNA và RNA, dẫn tới tổn thương phân tử . b) Hiệu ứng gián tiếp, trong đó phân tử bị biến đổi hóa học duyệt y các phản ứng sở hữu các gốc tự do (CÁC GỐC TỰ DO) và các mẫu OXY phản ứng được tạo ra cốt yếu trong khoảng sự phóng xạ của nước. Tác động rốt cục của thương tổn bức xạ trực tiếp hoặc gián tiếp là khiến cho xáo trộn cấu trúc và chức năng phân tử, dẫn tới thay đổi chuyển hóa tế bào. Lipid mỗi giai đoạn oxy hóa xảy ra sau khi chiếu xạ hoặc tiến công các GỐC TỰ DO. Điều này giới thiệu để phân phối những dẫn xuất axit béo chuỗi ngắn, kết liên ngang lipid-lipid và protein-protein cũng như kết liên ngang lipid-protein, oxy hóa các axit amin có thể tiếp giáp gần gũi, biến tính protein và phân tách những liên kết disulphide trong protein. thành ra, những thay đổi này nhiều khả năng được thay đổi tính lưu động và tính thấm của màng, điều này nhiều khả năng kích hoạt giải phóng những chất trung gian sinh lý mạnh . Hoạt động của các enzyme can dự tới những màng này có khả năng bị thay đổi do sự xáo trộn của vi môi trường lipid và cấu trúc protein. Tóm lại, xạ trị khiến thương tổn những tế bào thường nhật tiếp giáp với khối u và người đang bệnh tật nhiều khả năng gặp một số triệu chứng nhất thiết trong thời kỳ XẠ TRỊ hoặc sau đấy.


Do các ứng dụng to to của việc tiếp xúc mang bức xạ ngoài dự kiến ​​cũng như XẠ TRỊ theo kế hoạch, kiểm soát an ninh bức xạ là 1 vấn đề quan yếu. những nhà kỹ thuật đã tăng trưởng những chiến lược trị liệu để giảm tác dụng phụ của XẠ TRỊ và tạo điều kiện cho việc chữa lành các thương tổn do phóng xạ trong các mô thường ngày. những thực nghiệm trong việc cải thiện chất phóng xạ đã tập kết vào sàng lọc những hợp chất sinh vật học và hóa học khác nhau. Trong các thập kỷ qua, một số tác nhân tổng hợp và bỗng nhiên đã được điều tra về tiềm năng của chúng là CHẤT PHÓNG XẠ. Thí dụ, tác dụng phóng xạ của những chất chống oxy hóa, những yếu tố kiểm soát an ninh tế bào, điều biến miễn dịch, các phân tử kết liên có vitamin và DNA đã được Phân tích in-vitro và in-vivo trên toàn toàn cầu. Bên cạnh đó, kế hoạch đã không xuất sắc lúc các hợp chất tổng hợp được quản lý trong XẠ TRỊ để giảm những tác dụng phụ bức xạ ko mong muốn. Mâu thuẫn, kết quả lâm sàng sở hữu sẵn cho thấy rất khó để đưa ra quyết định rõ ràng để từ khước hoặc chấp thuận áp dụng CHẤT PHÓNG XẠ tổng hợp trong XẠ TRỊ trong 1 phương pháp kết luận. Khi mà, những thí điểm lâm sàng trong ấy tác dụng của vitamin chống oxy hóa, như một phương thức liền kề sở hữu XẠ TRỊ, chống lại những tác dụng phụ đối nghịch cấp tính được Đánh giá chứng minh rằng vận dụng chất chống oxy hóa liều cao, có thể cải thiện chữa trị hiệu quả; cho tới hiện tại ko sở hữu CHẤT PHÓNG XẠ tổng hợp lý tưởng mang sẵn mà ko chỉ không mang độc tính tích lũy hoặc không thể đảo ngược, mà còn có thể tiện lợi quản lý và phân phối bảo vệ trong tương lai hiệu quả chống lại phóng xạ. ngược lại, những nhà thực nghiệm đã Con số những sản phẩm trong khoảng việc nấu cao dược liệu bằng thảo mộc khác nhau cho các điều kiện qua trung gian các GỐC TỰ DO trong bệnh và rối loàn của con người. các nghiên cứu để truy nã cập hiệu quả mang CHẤT PHÓNG XẠ độc tính tốt dẫn tới sự quan tâm càng ngày càng tăng đối sở hữu những hợp chất bỗng dưng. những nhà công nghệ đã trích xuất 1 số CHẤT PHÓNG XẠ hiệu quả thực từ vật; ngoài ra, việc cải thiện CHẤT PHÓNG XẠ hiệu năng, hiệu quả và không độc hại cho vận dụng lâm sàng vẫn đang được nghiên cứu. Thành ra, một số thứ tự đã được lớn mạnh để ngăn ngừa bệnh nhân bằng phương pháp can thiệp vào việc cải thiện những thương tổn phóng xạ ion hóa. Một trong các thảo dược liệu PHÓNG XẠ nức danh nhất là Silybum Marianum, thường được gọi là Cây kế sữa. Silymarin là một trong những thành phần hóa học quan yếu nhất của cây kế sữa. Silymarin gồm sáu flavonolignans mà Silibinin, sở hữu 40-50%, là đa dạng nhất. Trong bài Phân tích này, chúng tôi giới thiệu Silymarin là thảo dược liệu PHÓNG XẠ.


Thất bại của những đặc thuộc tính PHÓNG XẠ và Silymarin bây giờ như một CHẤT PHÓNG XẠ cây thuốc Sự phát triển ban đầu của CHẤT PHÓNG XẠ dẫn đến việc tậu ra những thành phần thiol tổng hợp; mặc dù chúng sở hữu tác dụng phụ ko mong muốn khăng khăng. Do vậy, những nhà thử nghiệm đã lên kế hoạch cho các thực nghiệm về CHẤT PHÓNG XẠ mới lạ, không chỉ có khả năng hiệu quả hơn mang chứng mất độc mà còn có khả năng được ưng ý hơn khi kê đơn. Trong thập kỷ qua, một số hợp chất tổng hợp, chất tạo chelat và chất chống oxy hóa trùng hợp đã được kiểm tra khả năng kiểm soát an ninh những tổn thương do cảm ứng XẠ TRỊ. Tất nhiên, trọng tâm chính là những tác nhân trùng hợp và tổng hợp, chả hạn như những hợp chất organometallic và chất điều chỉnh bức xúc sinh vật học. Những chất điều hòa miễn dịch là các tác nhân không phải là cytokine, được coi là một tuyển lựa để xúc tiến các tế bào gốc tạo máu. Các thứ này có thể tiếp thêm sinh lực, biệt hóa và tăng sinh tế bào gốc tạo máu, cho nên ngăn ngừa và tu bổ những tổn thương do bức xạ gây ra. Trong chế độ ăn uống của chúng tôi với những thành phần bỗng dưng khác nhau bao gồm các chất chống oxy hóa, ví dụ: enzyme, nguyên liệu khoáng và vitamin. Giảm thương tổn oxy hóa bởi những chất chống oxy hóa bỗng nhiên chuẩn bị 1 loại kiểm soát an ninh chống lại thiệt hại bức xạ. Hơn nữa, những nhà thực nghiệm đã được cải tiến nhiều hơn các chất bắt chước siêu oxit effutase (SOD) tổng hợp, với một ion kim khí, như Cu, Fe, Mn và Zn. Phần đông những chiếc thuốc này mang phổ quát chiếc kiểm soát an ninh bức xạ ở các người bệnh được điều trị bằng XẠ TRỊ. tới bây giờ WR-2721 là CHẤT PHÓNG XẠ hóa học tốt nhất; mặc dầu nó ko được kê đơn trong XẠ TRỊ của đa số các người bệnh ung thư do tác dụng phụ với hại và giá cực cao. Bởi vậy, ý định trong cải tiến CHẤT PHÓNG XẠ nghiêng về CHẤT PHÓNG XẠ trong đó chức năng cơ bản là F nhặt rác. Hiệu quả của CHẤT PHÓNG XẠ được xác định là hệ số giảm liều được tính bằng phương pháp vẽ tỷ lệ sống sau 30 ngày sau XẠ TRỊ so sở hữu liều XẠ TRỊ. Trong những năm gần đây, các nhà công nghệ đã khiến việc thăm dò phóng xạ đối có các chất phytochemical và chiết xuất cây thuốc. Arora et. Al. Giải thích hiện trạng của tương lai hiện giờ và mai sau của CHẤT PHÓNG XẠ cây thuốc tập kết vào tiềm năng phát hiện thuốc CHẤT PHÓNG XẠ dựa trên những hợp chất đột nhiên. Người ta đã được dùng thảo mộc để chữa bệnh từ rất lâu rồi và nó vẫn tiếp tục cho tới ngày nay. Hiện tại, khoảng 70% nhà sản xuất coi sóc sức khỏe của toàn cầu là dựa trên vận dụng của thực vật và các sản phẩm thảo mộc. những thực nghiệm bật mí rằng một số loại thực vật và điều chế của chúng đã được sử dụng hưng vượng vượng để trị liệu các bệnh và rối loàn qua trung gian F for cho bệnh ung thư, Parkinson, bệnh Alzheimer, xơ vữa động mạch, viêm khớp dạng tốt, lão hóa và các bệnh viêm nhiễm. Vì thế, sẽ hợp lý khi kỳ vọng rằng cây thuốc có khả năng cất một số thành phần có thể bảo vệ so có những tổn thương qua trung gian các mẫu OXY bức xúc. Nhiều cây thuốc thảo mộc được thực nghiệm về hiệu quả phóng xạ và kết quả đã chứng minh tác dụng CHẤT PHÓNG XẠ của chúng. Hiệu quả phóng xạ của chiết xuất từ việc nấu cao dược liệu thuê những sản phẩm cây thuốc bao gồm đầy đủ thành phần bao gồm các chất kích thích nâng cao sinh tế bào, chất chống viêm và kháng khuẩn, chất kích thích miễn nhiễm, cũng như chất chống oxy hóa, 1 số chất nhiều khả năng thực hành trong sự cô lập và hài hòa sở hữu các hợp chất khác. gần như những nghiên cứu vận dụng các sản phẩm thảo mộc đã tập trung vào khảo sát hiệu quả phóng xạ của phần đông chiết xuất hoặc công thức polyherbal, và trong 1 số trường hợp nhất định, điều chế phân đoạn và các thành phần riêng biệt. Một số thử nghiệm đã được Thống kê là phóng xạ trong những hệ thống mô hình khác nhau. một số sản phẩm bao gồm chất chống oxy hóa có thể điều tiết tác động có hại của bức xạ ion hóa trong các hệ thống sinh học và các phân tử sinh học bao gồm cây họ cải.


Các loại rau (ví dụ như bông cải xanh và bắp cải), Mentha arvensis Linn (bạc hà), Podophyllum hexandrum Linn. (Táo Himalaya May), tảo Spirulina platensis và trà xanh (polyphenol), bixin (caroten), Gingko biloba Linn. Bào chế (flavone glycosides và techất phóng xạene lactones), và cây kế sữa (Silymarin). Nhiều Công trình sử dụng hóa chất thực vật đã hội tụ vào Tìm hiểu hiệu quả bảo vệ phóng xạ của tổng số bào chế hoặc công thức polyherbal và trong 1 số trường hợp là một phần của chất chiết xuất và những thành phần riêng biệt, vì khả năng của chúng để bảo kê chống lại sự hình thành thể nhiễm sắc do thể nhiễm sắc và micronuclei. Mặc dù nhiều loài Thảo dược nhiều khả năng chứng minh với các hành động sinh học khác nhau có khả năng can hệ đến việc thoa dịu các tổn thương do bức xạ ion hóa trong những hệ thống động vật với vú; chỉ một vài trong số họ đã được phân tích 1 bí quyết có hệ thống. một số sản phẩm cây thuốc như vitamin, flavonoid, caroten và polyphenol, được biết là minh họa cho những đặc tính chống oxy hóa. Silymarin cho các thuộc tính độc đáo của nó, ví dụ: ko có độc tính, flavonoid hoạt tính sinh học, Thảo dược kiểm soát an ninh gan đã được phê duyệt; sử dụng nhiều trên toàn toàn cầu, như một chất chống oxy hóa chế độ ăn uống, để bảo vệ chống lại phổ biến rối loạn và bệnh tật cũng như điều trị của họ. Nhiều mô hình in vitro và in vivo đã được minh họa các đặc tính chống viêm, chống oxy hóa và chống ung thư của Silymarin so mang những phản ứng viêm, stress oxy hóa và xúc tiến khối u gây ung thư hóa học. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy Silymarin khiến nâng cao aspaXạ trịate ) và -aminotransferase (ALT) và của huyết tương. ngoài ra, Silymarin được tiêu dùng như 1 chiếc thuốc mỡ tại chỗ để điều trị ung thư vú trên toàn toàn cầu. Hơn nữa, Silymarin được biết là điều chỉnh những các con phố tiền viêm duyệt y điều chỉnh xuống của cyclooxygenase-2 và 5-lipooxygenase; vì thế, bảo kê hệ thống cytochrom P450detoxization gan tham dự hoạt động của enzyme cytochrom P450 ở gan. Silymarin có thể hoạt động như 1 CHẤT PHÓNG XẠ cho gan bằng cách thức duy trì tính thấm của màng và bảo vệ sự cạn kiệt glutathione ở gan. Bên cạnh đó, Silymarin không chỉ hoạt động như một yếu tố bảo kê gan; nhưng nó cũng sở hữu tác dụng bảo kê so với những cái thuốc mang độc tính thận khác nhau. những thử nghiệm chứng minh rằng Silibinin kiểm soát an ninh tế bào gan, vì nó có thể ngăn chặn những thụ thể hepatotoxin có sẵn trên màng tế bào gan; do vậy, nó bảo vệ các tế bào chống lại chiếc chết và apoptosis. Bên cạnh đó, những thử nghiệm cho thấy Silynmarin ngăn ngừa độc tố gan bằng bí quyết giảm lượng Glutathione bị oxy hóa trong gan và ruột; thúc đẩy RNA polymerase ribosome và tổng hợp protein dẫn đến nâng cao cường tái hiện tế bào gan. Ở chuột, đa số mọi người đã chứng minh rằng Silymarin có khả năng chặn đứng gan so với fumonisin B1 Giảm chấn thương và tổn thương phổi và nhiễm trùng cấp tính do nhiễm trùng huyết. Tác động kiểm soát an ninh gan mạnh mẽ của Silymarin so mang độc tế bào và apoptosis xảy ra bởi Ochratoxin A, đã được minh họa trong tế bào gan nguyên phát nuôi cấy. Các tác dụng kiểm soát an ninh gan của Ochratoxin A, trong Aflatoxin B1, cũng đã được trình bày trong trường hợp chuột Wistar đực bạch tạng. những thực nghiệm trên gà làm thịt mách nhỏ rằng phức hợp -phospholipid sở hữu khởi thủy Silymarin sở hữu tác dụng làm cho giảm độc tính của aflatoxin B1 (AFB1). Hơn nữa, các tác động tiềm ẩn của Silymarin khi được tiêu dùng trong các kết quả gây độc miễn nhiễm do vitamin E so sở hữu Ochratoxin A ở gà trống White Leghorn cũng đã được minh họa. Hơn nữa, tác động phòng ngừa của Silymarin đối mang nhiễm độc gen do L-arginine gây ra đã được chứng minh trong nuôi cấy tế bào lympho in vitro. Silymarin bao gồm các thành phần phytochemical như lignans và flavonoid. những nghiên cứu đã làm cho sáng tỏ rằng những hợp chất riêng lẻ này sở hữu tác động đáng nhắc đối có những triệu chứng bệnh lý khác nhau cũng như mang các đặc tính kiểm soát an ninh phóng xạ. Silymarin có thể kéo dài thời kì tu tạo DNA, vì nó có khả năng khiến cho nâng cao khả năng bắt pha G2 / M. không những thế, Silymarin điều chỉnh các thương tổn oxy hóa do ethanol gây ra và làm cho tăng những hoạt động của Interleukin-10, nhân tố hoại tử khối u, γ -interferon và yếu tố vững mạnh nội mô huyết mạch. Silymarin cũng được biết là điều chỉnh quá mức một số dịch vụ gen chống apoptotic tham gia vào việc tái hiện những tế bào khối u. Nó đã được tiết lộ để có những nhân vật dự phòng hóa trị và bảo vệ ung thư tuyến tiền liệt và da.


Lignans và flavonoid còn đó trong Silymarin đặc biệt đã được khiến sáng tỏ mang đặc tính chống bức xạ. bình thường, một số thành phần hóa học đã được Phân tích về khả năng CHẤT PHÓNG XẠ. không những thế, khả năng ứng dụng riêng của hồ hết các tác nhân tổng hợp vẫn còn giảm thiểu, vì độc tính của chúng ở liều tối ưu. Để giảm độc tính của 1 thành phần tổng hợp, đa số mọi người cần dò la những thành phần; mà có khả năng hiệu quả hơn và ít độc hơn. 1 lĩnh vực thử nghiệm quan tâm phổ quát xúc tiến mẫu thành phần tương tự nằm trong việc ứng dụng những thành phần tình cờ. Việc ứng dụng những tác nhân ngẫu nhiên để tăng cường sức khỏe 1 người đã tăng lên trong thời đại hiện đại. bởi thế, điều này tương đối logic lúc chọn lựa CHẤT PHÓNG XẠ thay thế rơi vào Thảo dược và bào chế thảo mộc. Không những thế, việc ứng dụng những bào chế hoặc cây thuốc này, vì CHẤT PHÓNG XẠ cần được khảo sát 1 cách khoa học. khi điều này được thực hành, 1 CHẤT PHÓNG XẠ khi không nhiều khả năng hiệu quả hơn 1 tác nhân tổng hợp hóa học. Tóm lại, một CHẤT PHÓNG XẠ hiệu quả và phù hợp phải sở hữu sinh lý với các ký tự sau:



1) F scavenger; 2) thiệt hại phóng xạ; 3) giúp cho DNA và sửa sang tế bào; 4) Điều hòa miễn dịch; và 5) Tạo điều kiện tái hiện những cơ quan bị thương tổn và bị ảnh hưởng . Tuy nhiên, "CHẤT PHÓNG XẠ bất chợt thực hiện tác dụng bảo vệ của chúng chuẩn y các quy trình nhất định như trong phần sau: 1) Quét rác (quá trình chống oxy hóa); 2) Điều chỉnh mRNA của chất chống oxy hóa những enzyme như catalase, glutathione transferase, glutathione peroxidase, superoxide effutase; 3) xúc tiến sự bình phục của những chức năng tạo máu và miễn dịch; 4) Nén DNA, 5) Kích hoạt các enzyme tu chỉnh DNA; Sự chậm trễ của công đoạn phân chia tế bào và gây thiếu oxy trong những mô; 8) Giảm peroxid hóa lipid và nâng cao độ cao trong các hàng ngũ sulphhydryl ko protein và 9) Ức chế hoạt hóa protein kinase, protein kinase hoạt hóa nitơ, cytochrom P-450, oxit nitric ". "Để tính tới thuốc Thảo dược đã được nhận nấu cao dược liệu trong khoảng thực vật này dưới dạng CHẤT PHÓNG XẠ, con người phải coi xét các mục sau đây: một. Thành phần chính xác hai. Cơ chế của 1 ction của từng thành phần 3. Khả năng tác động hiệp đồng giữa những thành phần khác nhau 4. Khảo sát về cơ chế hoạt động như CHẤT PHÓNG XẠ. Cái bỏ các thành phần độc hại từ dịch chiết 6. Dược động học của những thành phần khác nhau trong những cơ quan cơ thể . Một số tham số hóa lý như tính thấm của màng, khả năng tương tác với màng tế bào và hạt nhân, hệ số khuếch tán của những thành phần, khả năng tương tác với chất lỏng cơ thể, phân phối sinh vật học vv. Bây giờ, sự xúc tiếp của con người với bức xạ ion hóa ngày càng nâng cao do sự cải tiến của công nghệ và kỹ thuật. Sự phát triển của thuốc phóng xạ là rất quan trọng để chặn đứng người bệnh khỏi tác dụng phụ của xạ trị, cũng như công chúng khỏi chiếu xạ không mong muốn .



KẾT LUẬN Tai nạn hạt nhân và phóng xạ nhiều khả năng dẫn tới thiệt hại phóng xạ từ làng nhàng tới nặng và tử vong lớn. Tác hại của bức xạ on trên những hệ thống sinh học đã được biết tới. cây thuốc vốn có năng khiếu chống lại những bức xạ hiểm nguy từ mặt trời. Xúc tiếp mạnh có bức xạ ion hóa do mục đích bỗng dưng, nghề nghiệp hoặc trị liệu gây ra thương tổn tế bào chính yếu do hình thành quá mức những chiếc oxy phản ứng. vừa mới đây, con người quan tâm đến việc bảo vệ bức xạ để Phân tích tiềm năng kiểm soát an ninh phóng xạ của cây thuốc và cây thuốc mang hy vọng một ngày nào đó nhiều khả năng mua thấy một tác nhân dược lý thích hợp có khả năng kiểm soát an ninh người ta chống lại tác hại của bức xạ ion hóa. bởi thế, nhiều khả năng kể rằng thảo mộc được phân phối một số thành phần đề phòng khăng khăng để bảo kê bản thân khỏi các thương tổn do bức xạ kích thích và stress oxy hóa. Việc sử dụng hóa chất Thảo dược trong kiểm soát an ninh phóng xạ đã nhận được nhiều sự chú ý trong thập kỷ qua do những khám phá nhất mực có các đặc tính đặc biệt là chất chống oxy hóa. Khái quát, chúng rất nhiều vì các chất phytochemical với ít độc tính hơn ở người; vì phổ quát trong số này được tiêu dùng thay thế ở những nước châu Á trong rộng rãi thế kỷ. Hơn nữa, các thử nghiệm tiền lâm sàng cho thấy rằng chúng mang sẵn thuận lợi hơn, phải chăng tiền và bảo vệ phóng xạ thấp. Hoạt tính phóng xạ của hóa chất cây thuốc có thể được điều hòa duyệt y những cơ chế cố định như quét F, cải thiện tình trạng chống oxy hóa và khả năng chống lipid hóa oxy hóa, được tạo ra do sự hiện diện của phổ quát lực lượng hydroxyl phenol gắn vào cấu trúc vòng. Polyphenol đặc trưng là flavonoid glycoside, isoflavone và những dẫn xuất của chúng (quercetin, catechin, myricetin, luteolin, directionin, naringin, apigenin, v.v.) sở hữu các đội ngũ ketone hài hòa sở hữu những vòng thơm được kích hoạt bởi những chất thay thế điện tử. Và ổn định các thời kỳ oxi hóa khử trong các tế bào. Những polyphenol có khả năng điều chỉnh tăng mRNA của những enzyme chống oxy hóa như catalase, glutathione transferase, glutathione peroxidase và superoxide disutase, thành ra chống lại stress oxy hóa gây ra bởi bức xạ ion hóa. Điều chỉnh nâng cao những gen sửa sang DNA và ức chế những gen như protein kinase C, protein kinase hoạt hóa mitogen, cytochrom P-450 và oxit nitric cũng có thể bảo kê chống lại tổn thương DNA do bức xạ. Điều chế cây thuốc có hiệu quả khôi phục tình trạng thăng bằng bị đảo lộn trong thương tổn phóng xạ, theo phương pháp tập thể và toàn diện nhờ vào phổ phytochemical khác nhau của chúng. Rút cuộc, những nghiên cứu có thể được bề ngoài để đưa ra những phân tử radioprotector chì trên thị phần mang thủ tục người đang bệnh tật chấp thuận được. Các hoạt động đa dạng được miêu tả bởi Silymarin, bao gồm kiểm soát an ninh gan, bảo kê bao tử, chống oxy hóa, kiểm soát an ninh và chống viêm, và hiệu quả của nó trong những thí điểm lâm sàng mới đây để điều trị một số lượng to bệnh tật đã chứng minh tính hiệu năng và hiệu quả của nó ở người. Trước thiếu gì tác dụng có lợi của silymarin trong việc kiểm soát các bệnh qua trung gian các cái oxy bức xúc, đa số mọi người cảm thấy rằng silymarin có thể hoạt động như một tác nhân đối phó bức xạ đầy hẹn.



 Xem bài liên quan cùng danh mục: