Đất đai vừa là thành tố quan trọng của môi trường vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, sinh hoạt. Để đảm bảo phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành các quy định về BVMT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp. Các quy định này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Đất đai, Luật BVMT, Pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, các văn bản về việc đăng ký chính thức, đăng ký bổ sung và đăng ký đặc cách một số loại thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng tại Việt Nam...

>>> Xem thêm: Giải pháp để giữ gìn vệ sinh môi trường





Thực trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường đất nông nghiệp ở Việt Nam

Ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp


Sử dụng phân bón không đúng cách đã và đang để lại dư lượng phân bón cây trồng không hấp thụ, điều này tác động tiêu cực đến hệ sinh thái nông nghiệp, làm ô nhiễm nguồn nước, đất nông nghiệp. Đặc biệt, dưới góc độ môi trường, hàng năm một lượng lớn phân bón được rửa trôi hay bay hơi đã làm ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống, đó là một trong những tác nhân gây ô nhiễm đất, nước, không khí.


Bên cạnh đó, hoạt động chăn nuôi gia súc cũng ngày càng phát triển, mở rộng về quy mô và diện tích. Chất thải từ các hoạt động chăn nuôi, gia súc, gia cầm hầu như không được xử lý đúng kỹ thuật, xả thải trực tiếp ra môi trường cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm đất, nước.


Suy thoái đất nông nghiệp


Thiên tai, bão lũ gia tăng đã làm tăng hiện tượng rửa trôi, xói mòn, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng dòng sông... gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất, hiện tượng thiếu nước, hạn hán ở một số vùng đã xảy ra, dẫn tới hiện tượng hoang mạc hóa đất.


Nạn phá rừng, khai thác gỗ để lấy đất canh tác hoặc do thiên nhiên đã làm mất một diện tích lớn đất phủ thực vật dẫn đến rửa trôi và xói mòn đất. Sự suy giảm diện tích rừng đã gây sức ép không nhỏ đối với môi trường, làm mất các chất dinh dưỡng trong đất, làm suy thoái và mất tính năng sản xuất của đất. Đất nông nghiệp cũng chịu ảnh hưởng một phần lớn từ quá trình này.

>>> Xem thêm: Vấn nạn ô nhiễm môi trường ở nước ta





Từ việc nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp cho thấy chính sách pháp luật về BVMT đối với đất nông nghiệp chưa thực sự phát huy được hiệu quả trên thực tế. Mặc dù Nhà nước đã xây dựng khung pháp lý khá toàn diện về việc bảo vệ đất nông nghiệp, song giữa pháp luật và thực tiễn lại chưa có sự phù hợp. Bất cập được thể hiện trên các phương diện:


Tuy pháp luật quy định khá nghiêm ngặt về vấn đề sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng như các hành vi dẫn đến hủy hoại đất, song bản thân những người dân lại chưa được trang bị kiến thức pháp luật, kiến thức khoa học đầy đủ về vấn đề này, hầu hết chỉ thực hiện theo thói quen. Hoặc trong nhiều trường hợp người nông dân đã được tuyên truyền đầy đủ thông tin về phương diện pháp luật cũng như kỹ thuật, song ý thức BVMT chưa cao, chỉ tính đến lợi ích trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài. Điều này đã dẫn đến thực trạng các biện pháp bảo vệ đất chỉ tồn tại trên giấy tờ mà không được hiện thực hóa.


Quy định về quản lý chất thải còn lỏng lẻo, thiếu các quy phạm cụ thể, việc quy định trách nhiệm quản lý của các cơ quan còn chồng chéo, mâu thuẫn, đặc biệt là chưa có quy chế quản lý chất thải khu vực nông thôn, dẫn đến hành vi xả thải gây tác động xấu đến đất nông nghiệp.


Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm, suy thoái môi trường trong sử dụng đất nông nghiệp


Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật BVMT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp cho bà con nông dân, tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn bà con cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đem lại giá trị kinh tế và BVMT, trao đổi với bà con nông dân về tác hại của việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách…, qua đó, từng bước nâng cao nhận thức của người dân trong việc BVMT đất nông nghiệp.


Hai là, đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật BVMT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp. Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần phải được quy định rõ về chức năng, thẩm quyền, đồng thời, các quy định về vi phạm hành chính về lĩnh vực BVMT trong nông nghiệp cũng cần phải bám sát với thực tiễn, phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế, kỹ thuật khu vực nông thôn để việc xử lý có thể dễ dàng triển khai và đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với người vi phạm.

>>> Xem thêm: Các vụ gây ô nhiễm môi trường





Ba là, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, cần xây dựng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ cụ thể để khuyến khích người nông dân BVMT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp.


Bốn là, hoàn thiện quy định về quản lý chất thải. Cần phải xây dựng khung pháp lý đầy đủ cho vấn đề quản lý chất thải, trong đó có quản lý chất thải nông nghiệp. Quản lý chất thải cần đề cao các biện pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải và gắn chúng với các biện pháp hỗ trợ cần thiết về tài chính, kỹ thuật cũng như chế tài nghiêm minh xử lý vi phạm.



 Xem bài liên quan cùng danh mục: